DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE
ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GOT HERE


Japanese scan
Author: Fujiko F. Fujio - 藤子・F・不二雄
Publishing Status: Complete
Scan Status: Vol 24/24
Download:

Read More......
DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE
ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GOT HERE


Japanese Scan
Author: Sakura Momoko - さくらももこ
Publishing Status: Ongoing
Scan Status: Vol 15/16+
Download:


Vol 01

Vol 02

Vol 03

Vol 04

Vol 05

Vol 06

Vol 07

Vol 08

Vol 09

Vol 10

Vol 11

Vol 12

Vol 13

Vol 14

Vol 15

Read More......
DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE
ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GO
T HERE


Korean Scan - many thanks to Greenleaf1309
Author: Kikuchi Kumiko - 菊池久美子
Publishing Status: Complete
Scan Status: Vol 6/6
Download:


Read More......
DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE
ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GOT HERE



Japanese Scan
Author: Min Ayahana - 彩花 みん
Publishing Status: Completed
Scan Status: 13/13 + oneshots
Download:

Vol 01

Vol 02

Vol 03

Vol 04

Vol 05

Vol 06

Vol 07

Vol 08

Vol 09

Vol 10

Vol 11

Vol 12

Vol 13

Oneshots


Read More......
DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE
ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GOT HERE


Author: unknown
Publishing Status: finished
Scan Status: Chap 1/1
Download:

Japanese// Vietnamese
Read More......
There are things that I want to announce:

1/ I got in to APU! Japan, see you next year!

2/ I am crossing for my renew Permanent Resident card. Please don't kill my hope and future!

3/ I am so fired up to draw and paint now. :D

4/ Just finished 2 art projects that have been killing me for 2 weeks. :D

5/ There would be another 2 for the last 3 weeks of school.

6/ Yay, there is only 3 MORE weeks!

7/ I am determined to study for my German test tonight. =P

8/ I am trying to move my 360s to Blogger as 360 Yahoo might shut down (?) Anyway, the design there is way better. Lol.

9/ I want to be serious with my major now, and study harder in order to skip the Intro to Digital Art course.

10/ Spending every day inside the Center for the Arts and witnessing others' talents have shaken me a lot. The world is scary, BUT I'm going to try my best!

11/ Buried in projects is scary but fun as the same time.

12/ I have to think about myself and others more.

13/ It's time to realize the reality and smile. =P

Ja, mata. Read More......


Source: Buta-Connection (http://www.buta-connection.net/studio/)

Translator: Anzu

DO NOT HOTLINK - DO NOT SHARE - ASK FOR PERMISSION FIRST HOWEVER YOU GOT HERE

Note: Những bộ phim của Ghibli trên thực tế đều là phim dành cho màn ảnh rộng (trình chiếu ở rạp) hơn là phát hành dưới dạng DVD/video. Người ta gọi những bộ phim như vậy là theatrical animation films, ngắn gọn là feature films hoặc animated features ^ ^;

STUDIO GHIBLI

Giới thiệu

Thế giới kì diệu của phim hoạt họa đã không ngừng phát triển kể từ lần đầu tiên chúng được ra mắt khán giả của màn ảnh rộng. Trong suốt hai mươi năm trời, phim hoạt họa đã tạo dựng một thế đứng vững chắc cho mình ở Nhật (ngay cả khi không được xuất khẩu). Có thể nói Nhật Bản là nước duy nhất đã biến loại phim “non nớt” này (kém phát triển và chỉ dành cho con nít) trở nên phổ biến với thế giới Âu châu. Từ khi được biết đến, phim hoạt họa đã “viếng thăm” hầu hết các tầng lớp xã hội ở đây, đồng thời cũng mang những tinh hoa và truyền thống Nhật Bản ẩn chứa bên trong truyền đạt tới người xem. Từ những sản phẩm rực rỡ nhất của thế giới hoạt họa, người ta tìm thấy những đứa con tinh thần của một studio “nhỏ bé”: Studio Ghibli, được điều hành bởi 2 trong số những thiên tài của thế kỷ: Hayao Miyazaki và Isao Takahata.

Với cuộc tiến quân quốc tế của Mononoke Hime, Sen to Chihiro No Kamikakushi (giải Gấu Vàng liên hoan phim Berlin), và gần nhất, Hauru No Ugoku Shiro, những bộ phim của Studio Ghibli trở nên phổ biến với thị trường Âu Mỹ. Chúng nắm một vị trí khá quan trọng đối với hình tượng hoạt họa của Nhật (thường vẫn hay gặp phải kì thị ở Pháp cũng như những nơi khác). Quả thật những tác phẩm của Ghibli luôn mang đậm bản sắc dân tộc mà vốn khó có thể thể hiện ra với khán giả nước ngoài, cùng chất lượng hoàn hảo và sự đa dạng không ngừng. Chúng thật sự đã tạo ra một phản chứng hùng hồn chống lại những định kiến về kĩ thuật hoạt họa của Nhật đã tồn tại trước đó.

Chúng tôi luôn hy vọng mọi người sẽ có cơ hội biết đến những thế giới tươi đẹp mà Miyazaki và Takahata sáng tạo ra, mà, mỗi trong số chúng sẽ là một hứa hẹn mới, là một giấc mơ thú vị hơn tất cả. Tôi chắc rằng bạn sẽ không bao giờ thoát khỏi những bất ngờ, những điều kì thú, hoặc những giây phút chạnh lòng chúng đã dựng nên. Mà cũng có thể bạn sẽ vô tình tìm thấy hình bóng của mình lẩn khuất trong những bộ phim ấy, biết đâu nhỉ… Chúng là tập hợp của vô số diệu kì, là dư âm của bao nhiêu cảm xúc, là hòa hợp. Chúng vượt xa ra khỏi lãnh thổ quê hương, dấn sâu vào thế giới nghệ thuật rộng lớn, và được công nhận như một sự thật hiển nhiên.

Với những sự kiện dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với các bạn về lịch sử của Studio Ghibli, về những cống hiến của nó đối với thế giới hoạt họa cũng như những diễn viên chính của chuyến du hành (Miyazaki, Takahata, Kondou, Hisaishi…)

Contacts

Address:
Ghibli studio
1-4-25, Kajino-cho
Koganei-shi, 184
Japan

Official site: http://www.ghibli.jp/
E-mail: post@ghibli.co.jp

Sự khởi đầu và sáng lập của Studio Ghibli

Studio Ghibli được chính thức thành lập để tiến hành sản xuất bộ phim Laputa, the castle in the sky năm 1986 bởi Tokuma Shoten, một nhà biên tập nổi tiếng người Nhật. Trên thực tế, xưởng phim này đã tồn tại từ rất lâu trong tâm trí của hai con người, của những nhà tư tưởng với niềm tin kiên định: Hayao Miyazaki và Isao Takahata.

Miyazaki và Takahata trong những năm đầu của thập niên 70

Là đôi bạn chí cốt, hai vị đạo diễn này thường hợp tác với nhau và chia xẻ những ý tưởng chung về phim hoạt họa. Từ bộ series cùng hợp tác Ohkami Shounen Ken (Ken – đứa trẻ người sói) ra đời năm 1964, cho đến những series nối tiếp (như Lupin III, Heidi, Conan,…) và những phim lẻ (Horus, Kopanda Panda) mà họ tiếp tục hợp tác, đến sự thành lập của Studio Ghibli, Miyazaki và Takahata đã đấu tranh không ngừng nghỉ với những xu hướng tân thời để bảo vệ kiểu tác phong nghệ thuật mà họ luôn theo đuổi. Cũng vì thế, đã có không ít đề án và tác phẩm bị hai người từ bỏ để chứng thực cho ý chí của mình. (Nemo, Cobra…)

Vào thập niên 70, với sự bùng nổ của thể loại hoạt họa “ăn liền” trên truyền hình, chất lượng của phim hình thường bị xem nhẹ. Đó là điều khó mà chấp nhận được so với những yêu cầu về một tác phẩm mà 2 thanh niên trẻ tự đặt ra. Rồi ý tưởng về một xưởng phim độc lập được nảy mầm.

Đầu thập niên 80, đề án cho bộ phim hoạt hình được mô phỏng theo Nausicaa, series manga của Miyazaki đăng trên tạp chí Animage, trở thành ngòi nổ thật sự cho ước mơ thành lập một xưởng phim. Trên thực tế, khi một đề án được tiến hành, vấn đề trước nhất đối với nhà sản xuất là tìm ra một xưởng phim đáng tin cậy để giao phó. Lúc đó, người duy nhất mà họ chắc chắn sẽ tham gia đề án đó là… Miyazaki! Takahata ngay sau đó được bổ nhiệm làm chủ nhiệm sản xuất (producer), và ông ấy đã đồng ý, bất chấp việc mình không có bất cứ kinh nghiệm nào trong lãnh vực này. Hata thật sự tin rằng Nausicaa sẽ trở thành một bộ phim quan trọng, nó sẽ đặt một dấu ấn mới mẻ trong làng phim hoạt họa Nhật Bản, bởi đây sẽ là cơ hội để Miyazaki có thể mặc sức dồn hết tâm huyết của mình vào việc sáng tạo nó.

Để tìm một studio, Takahata phải liên lạc với rất nhiều công ty lớn bé. Cuối cùng ông ấy đạt được thỏa thuận với một đối tác cũ của Toei Animation, Toru Hara, người đã lập nên studio nhỏ Topcraft. Mặc dù đến thời điểm này Ghibli vẫn chưa tồn tại, nhiều ý kiến cho rằng nhóm vẽ Topcraft chính là điểm khởi đầu của studio. Tuy nhiên, sau khi hoàn tất Nausicaa, Laputa bắt đầu khởi động, Topcraft đã phát sinh rất nhiều vấn đề về nhân sự nên chuyện cộng tác với họ lúc này là không thể. Takahata buộc phải đi tìm một studio khác. Vào khi đó, Tokuma Shoten, người đã tài trợ cho việc thực hiện Nausicaa, lên tiếng nói ông ấy muốn tiếp tục sản xuất phim hoạt họa trong thời gian sắp tới, với một quy trình hệ thống hơn.

Nausicaa nhận được mức thành công vượt qua mong đợi (đạt xấp xỉ 915,000 lượt xem và nhiều đánh giá cao), đặt nền móng cho việc nhận thức và sản xuất phim hoạt họa có chất lượng cao trong rạp chiếu. Cũng nhờ vào sự thắng lợi này, Tokuma đồng ý tài trợ cho việc thành lập một studio mới. Yasuyoshi Tokuma, chủ tịch hội đồng của tập đoàn Tokuma Shoten, trở thành chủ tịch (president) của studio. Mặc dù Tokuma rất hiếm khi đến thăm studio, những đóng góp của ông ấy dành cho nó luôn mang tính quyết định: ông ấy là người đã đề xuất việc chuyển thể bộ truyện tranh Nausicaa thành phim hoạt hình, là người đã đến thuyết phục các nhà phân phối để mở rộng đường sống cho Totoro Grave of fireflies.

Với những gì họ luôn theo đuổi, sự ra đời của studio mới chính là chiếc vé lộ trình giúp cho Miyazaki và Takahata thực hiện ước mơ của mình. Lúc đầu, Takahata dự tính sẽ đặt cho nó một cái tên tiếng Nhật. Ông ấy đã tiến cử “Musashino Kobo” (phân xưởng Musashino) nhưng Miyazaki lại không đồng ý. Rồi Miyazaki đề xuất cái tên “Studio Ghibli,” Ghibli trong tiếng Lybia nghĩa là –ngọn gió nóng thổi qua sa mạc Sahara- một từ được các phi công Ý dùng trong thế chiến thứ II đề cập đến những chiếc máy bay trinh thám của họ. Với cái tên này, Miyazaki, một kẻ nghiện máy bay từ nhỏ, muốn dồn hết nhiệt tình của mình vào đó: “Hãy thổi một ngọn gió phi thường vào thế giới phim hình Nhật Bản.”

Đối với hai nhà lãnh đạo, nếu studio mới chính là cơ hội để họ có thể tự do sáng tạo ra những bộ phim mang đầy đủ phẩm chất (một điều rất khó đạt được với những công ty khác, khi lợi nhuận và thời gian hạn chế luôn nắm vai trò quyết định), mỗi một bộ phim mà nó phát hành sẽ lại là một ván cờ liều lĩnh. Quả thật, biểu hiện của phim trước sẽ là chiếc chìa khóa để tài trợ bộ tiếp theo. Chỉ cần một phim bị rớt doanh thu, sự nghiệp của studio cũng sẽ chấm dứt… Rất may đó là việc chưa bao giờ xảy ra-!

Được chấp nhận và thành công

Năm 1986, Laputa trở thành bộ phim đầu tiên mang nhãn hiệu Ghibli. Nó thu hút 775,000 lượt xem, nhận được vô số lời khen tặng. Doanh thu của nó được đầu tư lần nữa vào một đề án cực kỳ liều lĩnh: sản xuất hai bộ phim cùng một lúc, My Neighbor Totoro chỉ đạo bởi Miyazaki, và Grave of Fireflies do Takahata phụ trách. Toàn thể đội ngũ Ghibli buộc phải chia làm hai tổ thực hiện để đồng loạt công bố chúng vào năm 1988. Vì sự kiện này, những eo hẹp và khó khăn của Studio Ghibli lại tăng lên, nhưng 2 thiên tài Miyazaki và Takahata vẫn không lùi bước.

Miyazaki trong quá trình thực hiện Laputa

Thành công không đến tức thì, nhưng hai tác phẩm đó đã vun đắp rất nhiều cho danh tiếng của studio, cho sự nghiêm túc và chất lượng của nó. Chúng đoạt vô số huy chương ở các lễ trao giải, chúng gia nhập hàng ngũ những bộ phim Nhật Bản nổi tiếng nhất, và chúng được yêu chuộng khắp mọi nơi. Totoro thậm chí còn đem lại một khoảng doanh thu bất ngờ dựa trên những sản phẩm ăn theo nó, dù chúng được tung ra 2 năm sau khi bộ phim được ra mắt để đáp ứng nhu cầu của các fan hâm mộ. Khi Totoro biến thành một hiện tượng, Studio Ghibli đã quyết định chọn nó làm logo cho mình.

Lần đầu tiên Studio Ghibli thật sự phá vỡ kỷ lục vé bán toàn quốc là lúc họ công bố tác phẩm năm 1989: Majo no Takkyuubin (Kiki’s Delivery Service). Được thực hiện bởi Miyazaki, bộ phim này đã bán ra 2,640,000 vé xem chỉ nội trong nước Nhật. Thành công không-ngờ-đến này đã giúp cho Miyazaki có cơ hội xúc tiến điều kiện làm việc với toàn thể “thành viên” của studio, mà đa số vẫn chỉ kí hợp đồng tạm thời vào lúc đó. Với mức doanh thu mà Kiki đem lại, cho đến tháng 11/ 1990, việc thúc đẩy chế độ làm việc trọn thời gian được tiến hành, mang lại cho các nhân viên của Ghibli một mức lương ổn định và lợi tuất cao hơn. Nó cũng giúp studio có khả năng lập thêm một bộ phận chuyên môn phụ trách việc rèn luyện các tay nghề mới.

Đây cũng là thời điểm mà Studio Ghibli tiếp nhận sự quản lý của một vị chủ nhiệm mới, Toshio Suzuki, người đã từng là tổng biên tập của tạp chí Animage. Suzuki là người đã gợi ý về bản thảo truyện tranh của Nausicaa, sau đó còn trợ giúp Miyazaki chuyển thể nó thành phim điện ảnh. Vài năm sau, ông ấy trở thành giám đốc điều hành chính thức của studio.

Sau một thời gian làm việc không ngừng, bộ phim Omohide Poroporo (Only Yesterday) của Takahata lại một lần nữa đoạt lấy thành công vang dội về số lượng vé bán. Một thành quả khác của Ghibli trong năm 91 là việc tăng lương gấp đôi và áp dụng chế độ tuyển dụng thông thường. Tuy nhiên, phương thức mới này cũng khiến cho kinh phí sản xuất tăng lên gấp nhiều lần. Bởi vậy, sau khi Omohide Poroporo ra đời, những nhà lãnh đạo studio quyết định cân nhắc đến việc đẩy mạnh một chính sách mới để tăng doanh thu vé bán.

Takahata trong quá trình thực hiện Omohide Poroporo

Để cân bằng mức lương hằng tháng của nhân viên studio, Porco Rosso được khởi xướng một cách gấp rút ngay sau Omohide Poroporo. Nhưng đến lúc này, các nhân viên gần như kiệt sức, và Miyazaki phải bắt tay một mình! Ông ấy lãnh trọn mọi vị trí, từ chủ nhiệm sản xuất, chỉ đạo, cho đến phụ tá. Áp lực dồn đến một cách nặng nề-! Để xoa dịu căng thẳng, Miyazaki đã nảy ra một ý kiến điên rồ: xây dựng một studio mới có thể đáp ứng được những nhu cầu đặc biệt của ban lãnh đạo, bởi vì làm việc ở một nơi tù túng (90 người trên 300m2) sẽ gây ra vô số trở ngại cho các thành viên.

Tokuma tán thành đề xuất này ngay lập tức, và đồng ý tài trợ cho việc xây dựng trong khi Miyazaki sẽ tự mình giám sát cũng như lên kế hoạch cho tòa nhà mới. Ông ấy muốn nó phải thật rộng rãi, sáng sủa, và được bao phủ bởi cây xanh. Có thể nói, Miyazaki vừa tham gia điều khiển và phụ trách xây dựng, vừa tiếp tục làm việc với bộ phim Porco Rosso còn dang dở. Năm 1992, studio mới được hoàn thành cùng một lúc với Porco (và nó tiếp tục là một thành công rực rỡ). Studio mới rộng khoảng 1100 mét vuông với 3 tầng, thuộc quận Koganei, ngoại ô Tokyo, với hiện khoảng 100 người làm việc ở đó mỗi ngày.

Năm 1993, Studio Ghibli được trang bị hai máy ảnh vi tính hóa (computer-controlled camera) để thuận tiện cho việc xử lý hình ảnh. Những thiết bị dành cho công nghệ minh họa (infography) cũng được mua về để studio có thể áp dụng các kỹ thuật sản xuất hoạt họa mới.

Cùng năm đó, Ghibli thực hiện bộ phim truyền hình đầu tiên (và duy nhất) Umi ga kikoeru (You can hear the ocean). Người chỉ đạo nó là đạo diễn trẻ Tomomitsu Mochizuki, 34 tuổi. Đây là lần đầu Studio Ghibli có một đạo diễn mới ngoài Miyazaki và Takahata. Đội ngũ thực hiện đều còn rất trẻ và tiêu chí của họ là sản xuất phim truyện một cách nhanh gọn, “kinh phí vừa rẻ mà chất lượng vừa cao”! Bộ phim truyền hình đó đạt một kết quả khá khả quan, vượt qua những gì mà mọi người mong đợi.

Năm 1994, Heisei Tanuki Gassen Pompoko của Takahata đạt vị trí đầu bảng thứ hạng vé bán, một lần nữa. Pompoko là bộ phim đầu tiên mà Ghibli sử dụng CG, một kỹ thuật tổng hợp hình ảnh. Tiếp bước là Mimi wo Sumaseba (Whisper of the Heart) và đoạn music video clip On Your Mark năm 1995, và đặc biệt, với Mononoke Hime năm 1997, Ghibli đã bộc lộ bước ngoặt chuyển tiếp trong việc sử dụng kỹ thuật đồ họa vi tính để tăng thêm tính linh động cho phim ảnh. Và họ khá thành công.

Với Mimi wo Sumaseba, Ghibli muốn thử nghiệm một đội hình làm việc mới: Miyazaki sẽ phụ trách sản xuất, kịch bản và phối cảnh. Kondo, người đã từng là đạo diễn hoạt cảnh (animation director) cho Grave of the Fireflies, KikiOmohide Poroporo sẽ trực tiếp chỉ đạo bộ phim. Trong giai đoạn đó, Miyazaki và Takahata đang nghĩ đến việc phải tìm ra một người thừa kế, và Kondo chính là ứng cử viên sáng giá nhất.

Giao ước Tokuma-Disney:

Luôn nhắm vào con mồi Châu Á béo bở, một số tập đoàn lớn, như Warner & Fox, đã cố gắng thuyết phục Miyazaki cho phép trình chiếu những bộ phim của Ghibli ở Mỹ. Nhưng họ cũng thêm vào những yêu cầu muốn thay đổi thời gian/ giai điệu bằng cách chỉnh sửa nhạc nền hoặc cắt đi một số hoạt cảnh. Hiển nhiên là Miyazaki và Suzuki (giám đốc điều hành của studio) đã thẳng thừng từ chối. Vào tháng 7/1996, cuối cùng họ cũng đã đi đến thỏa thuận với Buena Vista Home Entertainment: Disney có thể phân bố hầu hết các bộ phim của Ghibli ra thị trường quốc tế, trừ châu Á mà ra. Nhờ vậy, những tác phẩm sau lần lượt được phát hành (dưới dạng video gia đình): Nausicaa, Laputa, Totoro, Kiki, Omohide Poroporo, Porco Rosso, Pompoko, Mimi wo Sumaseba, và sắp tới đây, Mononoke Hime.

Lẽ nào Miyazaki và Takahata đã bán linh hồn cho quỷ dữ? Còn đâu những ngày tháng tranh đấu vì tự do, tranh đấu không nhân nhượng…?!? Trước hết, hãy để chúng tôi đính chính một điều, bản hợp đồng đặc biệt này không dính líu gì đến việc tự do sáng tạo của studio, bởi vì Disney không có bất cứ quyền hạn nào để can thiệp quá trình sản xuất phim ảnh, mặc cho việc họ đem kinh doanh chúng ở những đất nước ngoài châu Á.

Tuy nhiên, bản công bố về hợp đồng này đủ làm chấn động thế giới hoạt họa và gây ra một làn sóng phản ứng mạnh mẽ từ các fan hâm mộ. Một số lo sợ Disney sẽ nhúng tay vào những quyền lợi cạnh tranh bằng hình thức mua chuộc. Số khác liên tưởng đến số phận kinh hoàng của Nausicaa khi nó được trình chiếu ở Mỹ, và lo sợ cơn ác mộng sẽ quay trở lại lần nữa. Phiên bản được chỉnh sửa đó đã gây cho Miyazaki một cú sốc nặng nề, và người ta tự hỏi làm sao mà ông ấy còn chịu ngồi để ký hợp đồng với Disney. (về sau Miyazaki thừa nhận đó là cách để Tokuma có thể củng cố lại tập đoàn của mình, dẫu sao Tokuma cũng là người đã đóng góp rất nhiều cho sự khởi nghiệp của Ghibli…..)

Biếm họa của Tomkat, biểu lộ sự lo sợ của các fan với
bảng thông báo về Giao ước Tokuma- Disney

Trên thực tế, bản hợp đồng này đã được kí kết kể từ ngay lúc Mononoke Hime vẫn đang thực hiện dang dở. Tuy nhiên, kinh phí của nó thật sự đắt đỏ và những nhà sản xuất đã nghĩ rằng họ sẽ gặp tổn thất nếu chỉ dựa vào chỉ số doanh thu ở Nhật (sau đó họ sẽ nhận ra là mình đã sai...). Ý kiến đó dẫn đến việc Mononoke được đem đi khai thác trên thị trường quốc tế cùng với những bộ phim trước. Rất nhiều công ty có hứng thú với lời đề nghị đó, nhưng chỉ mỗi mình Disney là đạt đủ tiêu chuẩn so với các yêu cầu mà Miyazaki đặt ra. Hơn nữa, những điều khoản ghi trên bản hợp đồng đã nêu ra rất rõ ràng: Disney không có quyền “chạm” vào chúng, trừ khi những chỉnh sửa đó là do trùng lặp hoặc lỗi từ bản dịch. Disney đã cam kết sẽ không cắt một giây nào hay thay đổi nhạc nền của bất cứ một phim.

Tuy nhiên, những điều kiện trên vẫn không được thực thi một cách tuyệt đối. Ta hãy thử lấy đoạn kết của Kiki’s Delivery Service để làm ví dụ, trong ấy có một cảnh mà cha mẹ Kiki nhận được lá thư viết bằng tiếng Nhật. Lá thư này chỉ xuất hiện một cách thoáng qua, và ngôn ngữ của nó không giống với phương tây. Disney đã dùng kỹ thuật vi tính để chỉnh sửa lá thư đó và làm cho nó trở nên Tây hóa. Về phần nhạc nền, họ cam đoan sẽ không đụng chạm gì đến những bản nhạc gốc. Trên thực tế, Disney đã chèn thêm rất nhiều giai điệu vào bộ phim, mà đối với Miyazaki, những khoảng lặng ấy lại là những giây phút hàm ý nhằm kịch tính hóa hành động của nhân vật.

Lại nói về Mononoke Hime, thay vì giữ nguyên credits cho bản nhạc gốc (được trình bày bởi một giọng nam cao mạnh mẽ), Disney đã tìm một người khác để thể hiện lại lời ca khúc tiếng Anh (lúc đầu họ đã nghĩ đến Madonna!!) Hơn nữa, kịch bản cũng bị chỉnh sửa nốt. Nhưng dù sao, vẫn còn may là không có giây nào trong khoảng thời gian 2h15’ của tập phim bị cắt bỏ, tùy thuộc vào mức độ phức tạp của cảnh nền và những hình ảnh bạo lực diễn ra trong Mononoke, điều trái ngược với quy tắc sẵn có của Disney (lúc đó họ đã nghĩ đến chuyện có nên mua Totoro hoặc Kiki). Cũng vì thế, sau thành công tuyệt đối của mình ở Nhật Bản, Mononoke Hime bị “tạm treo” ở Mỹ gần khoảng 2 năm, không ai biết cần phải làm gì để có thể phát hành một bộ phim như vậy. Cuối cùng, vì Disney không dám “chạm” vào nó, Mononoke được giao lại cho Miramax, một hãng phim “độc lập” có quan hệ với Disney. Làm vậy sẽ giảm bớt những tổn thất tiền bạc có thế xảy ra-

Mặc dù bước thử nghiệm đầu tiên với Princess Mononoke ở US gặp phải nhiều biến cố và lợi nhuận không cao, Disney quyết định đầu tư 10% vào kinh phí cho tác phẩm kế tiếp của Takahata, My Neighbors Yamada, cũng như Spirited Away của Miyazaki. Có thể nói đây là lần đầu tiên, từ trước đến giờ Disney chưa bao giờ lên tiếng tài trợ cho một hãng phim nước ngoài! Và cuối cùng, mọi người nên nhớ là bản giao ước đó đã cho và sẽ cho phép cộng đồng phương Tây có dịp để khám phá những tác phẩm của Studio Ghibli, dù là trên màn ảnh rộng hay dưới dạng video hoặc DVD.

Sáu năm trôi qua kết từ khi bản hợp đồng được kí kết, các thành viên của Ghibli bắt đầu có cái nhìn thân thiện hơn với giao ước Tokuma-Disney, mặc cho một vài bất trắc đã xảy ra khi Ghibli tham gia thị trường quốc tế. Có thể nói nước Pháp đã rất háo hức để đón chào sự ra mắt của Mononoke, Yamada, Chihiro, The Cat Returns, và sắp đến là Howl’s Moving Castle. Ngay cả những tác phẩm từng vang bóng một thời của Ghibli cũng quay trở lại màn ảnh rộng như Castle in the Sky, Kiki’s Delivery Service, và sẽ rất nhanh, Pompoko!

Những thành quả của Miyazaki

Sau khi hoàn tất bộ phim Mimi wo Sumaseba vào khoảng đầu 1995, Ghibli bắt tay thực hiện tiếp tác phẩm thứ 11 của mình: Mononoke Hime (Princess Mononoke). Với tác phẩm mới này, Miyazaki dự định sẽ áp dụng nhiều công nghệ xử lý hình ảnh (data-processing) vào nó hơn. Chính vì thế, một đội ngũ chuyên về đồ họa vi tính được tập hợp, còn studio thì bỏ vốn để đầu tư thêm các loại máy tính chuyên dụng mới. Rốt cuộc, tổng kinh phí của Mononoke lại tăng lên gấp đôi so với những phim được thực hiện trước đó! Cũng trong lúc ấy, Ghibli khai mạc một trường dạy kỹ thuật hoạt họa nhằm khám phá ra và đào tạo cho lớp đạo diễn tương lai, tiếp bước theo Yoshifumi Kondo. Takahata là người đảm nhận việc giảng dạy.

Mononoke Hime đã khiến cho toàn thể nhân viên của Ghibli phải vùi đầu sản xuất trong suốt 2 năm trời. Để hoàn thành đúng thời hạn, Miyazaki lao vào làm việc như điên: ông ấy chỉ ngủ đúng 4-5 tiếng một đêm, luôn luôn có một chuyên gia châm cứu túc trực sát bên để chăm sóc cho sức khỏe của mình. Đến lúc Mononoke hoàn tất, Miyazaki tuyên bố mình sẽ về hưu. Lời tuyên bố ấy trở thành một quả bom và Mononoke nhanh chóng leo lên vị trí đầu bảng xếp hạng vé bán toàn quốc, gây xôn xao không ngừng. Nó vượt qua cả E.T. (Extra-Terrestrial), bộ phim giữ kỉ lục về doanh thu vé bán từ trước đến giờ (ở Nhật).

Mononoke Hime còn là bộ phim được cả thế giới công nhận: dựa theo giao ước Tokuma-Disney, Ghibli có cơ hội giới thiệu tác phẩm của mình đến rất nhiều quốc gia. Mặc cho cơn sốt về Mononoke (dưới dạng video gia đình) không cuồng nhiệt bằng những gì đã xảy ra ở Nhật Bản, dư luận quốc tế dành cho nó rất khả quan.

Đến cuối năm 1997, Miyazaki hoàn tất việc xây dựng một studio nhỏ và thoáng đãng cho mình. Đó là một ngôi nhà bằng gỗ có kích thước giống như studio chính. Miyazaki đã đặt cho nó cái tên “Butaya” (ngôi nhà của những chú heo~). Và đến tháng 1/1998, Miyazaki chính thức từ chức ở studio… Nhưng, bất hạnh xảy ra chỉ không lâu sau lời tuyên bố, Yoshifumi Kondo qua đời một cách đột ngột. Vì vậy, Miyazaki, sau khi mất đi người thừa kế của mình, đã quay trở lại với Ghibli khoảng một năm sau đó.

Trong khoảng thời gian này, công nghệ xử lý hình ảnh thực nghiệm trên Mononoke Hime được tận dụng một cách triệt để vào tác phẩm mới của Takahata, Tonari No Yamada-kun (My Neighbors Yamada). Cũng từ đây, Ghibli tuyên bố họ sẽ không dùng đến màu vẽ cellulose trong tác phẩm của mình nữa… Kết quả, bộ phim trở thành một hiện tượng mới lạ đối với nền công nghệ hoạt họa ở Nhật, nhưng nó cũng không được ưa chuộng bằng những lớp đàn anh (dù nó vẫn lấy được cân bằng từ doanh thu). Sau tác phẩm thành công nửa vời này, Takahata xem ra đã không còn mặn mà với công việc đạo diễn ở studio nữa, tuy ông ấy cũng không rời bỏ nó.

Từ năm 1999, hai tòa nhà mới bắt đầu được dựng lên, chứng tỏ sự phát triển không ngừng của studio (việc xây dựng rất đắt đỏ ở Nhật Bản). Việc mở rộng studio này không chỉ để phục vụ số lượng nhân viên đang tăng lên, mà đặc biệt, Ghibli muốn mở rộng thêm không gian tích trữ cho các thiết bị máy móc, những vật dụng chiếm hữu không ít diện tích ở đây.

Tháng 7/1999, Miyazaki mở một cuộc họp báo tại Butaya, đề cập đến kế hoạch xây dựng một bảo tàng mới tập trung cống hiến cho thế giới hoạt họa với tên gọi Museo d’arte Ghibli (Viện bảo tàng Ghibli - Italian). Ghibli Museum sẽ trưng bày các giai đoạn thiết kế của từng tác phẩm, cũng như phổ biến những đoạn phim ngắn được thực hiện bởi Miyazaki mà các fan chưa bao giờ trông thấy. Vì nó nằm trong lòng của công viên Inokashira, một khu rừng ở Mikata, Tokyo, viện bảo tàng sẽ được bao phủ bởi cây xanh và thực vật ở xung quanh, đúng như ý thích của Miyazaki. Lẽ dĩ nhiên, ông ấy là người trực tiếp đứng ra giám sát công trình và phác thảo từng góc độ chi tiết nhất của nó. Viện bảo tàng được mở cửa vào tháng 10/2001.

Trong lúc ấy, đội ngũ studio cũng bắt tay vào thực hiện tác phẩm mới của Miyazaki: SEN to Chihiro no Kamikakushi (Hành trình của Chihiro). Miyazaki từng tuyên bố sau Mononoke Hime rằng mình sẽ về hưu, tình trạng sức khỏe và tuổi tác không cho phép ông ấy thực hiện những bộ phim chiếm quá nhiều thời gian và tâm sức như vậy. Tuy nhiên, Miyazaki vẫn quyết định quay trở lại với Chihiro, đồng ý giao bớt một số việc mà mình thường đảm nhận cho người khác.

SEN to Chihiro no Kamikakushi được công bố vào tháng 7/2001, tạo ra một cơn sốt khổng lồ. Nó đánh bật, như Mononoke Hime đã từng làm, tất cả những đối thủ của mình về chỉ số doanh thu ở rạp (xấp xỉ 23 triệu khán giả và 30 tỉ Yens!). Thật là một tương lai rạng rỡ cho cái túi tài chính của studio! Không những thế, sự thành công không biên giới khiến Chihiro trở thành bộ phim đánh bật tên tuổi của Miyazaki ở nước ngoài: nó giật được rất nhiều giải thưởng quốc tế (như giải Gấu Vàng ở liên hoan phim Berlin, giải Oscar dành cho phim hoạt họa xuất sắc nhất,…) và nhận được ủng hộ rất nhiệt tình khi được trình chiếu.

Vào tháng 9/2001, Studio Ghibli lại tuyên bố mình sắp thực hiện 2 đề án mới. Tác phẩm đầu tiên là một bộ phim có khá nhiều triển vọng, được phụ trách bởi Hiroyuki Morita. Tác phẩm thứ hai được phụ trách bởi Mamoru Hosada (đạo diễn Digimon, The Movie). Studio Ghibli đang đổi mới! Bộ phim với độ dài trung bình (medium-length: 30’-60’) do Morita chỉ đạo cuối cùng được chuyển thành tác phẩm có độ dài tiêu chuẩn (full-length: >60’): Neko no Ongaeshi (The Cat Returns). Nó được công bố vào mùa hè 2002 như dự tính và đạt được kết quả khá tốt đẹp.

Bộ phim của Hosada thì ngược lại, nó bị trì trệ. Vào tháng 6/2002, vị đạo diễn trẻ cuối cùng cũng lên tiếng từ bỏ nó, dẫn đến việc tác phẩm bị đình chỉ một thời gian còn vị trí đạo diễn thì bỏ trống, toàn bộ nhân viên trở nên chán nản, công sức của đội ngũ làm việc coi như công cốc (Miyazaki đã phải bắt tay lại từ đầu)… studio đã đóng cửa 6 thángs, các thành viên có cơ hội để nghỉ ngơi hoặc đầu tư vào những đề án khác… studio lâm vào bế tắc cho đến khi Miyazaki quyết định quay trở lại lần nữa với vai trò chỉ đạo… Vì vậy, đến tận tháng 2/2003, đề án lại được khởi xướng lần nữa với Ghibli để thực hiện bộ phim Hauru No Ugoku Shiro (Howl’s moving castle).

Mặc dù không được quảng cáo rầm rộ (Miyazaki nghĩ rằng Chihiro đã quá phổ biến), tác phẩm mới này lại hiển nhiên trở thành một chiến tích vang dội ngay khi nó được công bố vào tháng 11/2004. Giống như Chihiro, nó được phát hành ở rất nhiều quốc gia, góp phần làm nên tên tuổi cho vị đạo diễn lừng lẫy của Nhật Bản này.

Năm 2005, Studio Ghibli tách ra khỏi Tokuma Shoten, trở thành một hãng phim độc lập. Chính thành công vang dội từ 3 bộ phim sau cùng của Miyazaki đã giúp cho Ghibli rửa sạch nợ nần với tập đoàn lớn này. Từ bây giờ Studio Ghibli có thể bắt đầu bước đi trên con đường riêng của chính mình, và mọi người vẫn đang trông chờ những sáng tạo mới của nó!

-----------------------------

Fin.

Read More......

Welcome to another of my Blogs!

This is a new start, in case 360 Yahoo going to shut down (probably)...
I'll try to update this one better than all of my three 360s.
I'll try to update my new and venful life in Japan next year too (hopefully I can go, lol).

Anzu. Read More......